Vì sao hoàng cung gọi là ‘Tử (máu tím) Cấm Thành’ mà không phải là màu sắc khác?

Thu, 04/08/2016 1:44 pm,GMT+7

Năm 1420, Minh Thành Tổ Chu Đệ xây dựng Tử Cấm Thành, từ đó trải qua 24 đời hoàng đế đến năm 1925 viện bảo tàng cố cung được thành lập, mở cửa đối ngoại, Tử Cấm Thành mới trở thành như hiện nay. Trong hai triều đại Minh và Thanh, Tử Cấm Thành là nơi hoàng đế cư ngụ, là biểu tượng của quyền lực tối cao và tôn quý. Tuy nhiên, cung điện rõ ràng là tường đỏ, ngói vàng, tại sao lại gọi là Tử (tím) Cấm Thành?

>> Sự thật gây tranh cãi về tướng mạo Tần Thủy Hoàng

>> Top 10 sự thật bất ngờ đến thú vị về các Pha-ra-ông thời Ai Cập

Đối với con người hiện đại, màu tím vẫn tượng trưng cho sự cao quý, trang nhã và thần bí. Nhưng trước khi nhà Tần thành lập, màu tím lại là một màu sắc không được xem trọng. Trong xã hội cổ đại Trung Quốc, hệ thống màu sắc được phân chia rõ ràng, có năm loại màu chính tương ứng với kim mộc thủy hỏa thổ theo thứ tự là trắng, xanh, đen, đỏ và vàng. Các màu khác là do các màu chính phối hợp tạo thành.

Như vậy, thời đó màu tím là loại màu sắc gì? “Xuân thu thích lệ” có nói: “Hỏa sợ với nước, dùng xích người với hắc, cố phương bắc màu phối hợp tím.” Ý nói là màu xanh cùng màu đỏ trộn lại sẽ trở thành màu tím, giống như màu tím của chúng ta hiện nay.

y-nghia-mau-sac-cua-tu-cam-thanh-2-.jpg

Thời cổ màu sắc chính được coi trọng, màu phối hợp bị cho là thấp kém, cho nên màu tím được gọi là “gian sắc”. Màu tím lâu đời nhất được ghi lại trong các sách cổ. Khổng Tử trong “Luận ngữ – Dương hóa” lần đầu tiên nhắc đến màu tím: “Ác tử chi đoạt chu dã, ác trịnh thanh chi loạn nhã nhạc dã, ác lợi khẩu chi phúc bang gia giả.”

Nguyên nhân của lời nói trên đại khái là vào thời Xuân Thu, Tề Hoàn Công đặc biệt yêu thích mặc quần áo màu tím, chính ông ta đã tạo ra một trào lưu yêu thích màu tím trong thiên hạ và gây ra một sự biến động không hề nhỏ với kinh tế quốc nội. Nhưng Khổng Tử coi trọng lễ giáo, vứt bỏ đỏ dùng tím chính là thiên địa không cho phép, lễ giáo cũng không tha thứ. Vì vậy, Khổng Tử không thích màu tím, cho rằng nó không hợp với phép tắc.

Khổng Tử phản đối “Ác tử triều” trong một thời gian dài. Cuối thời Đông Hán lưu hành sáng tác “Thích Danh” ghi lại: “Tử, tỳ dã, phi chính sắc. Ngũ sắc chi hà tỳ, dĩ hoặc nhân giả dã.”

Tại sao màu tím được cho là thấp kém đến vậy? Trung Quốc cổ đại, quần áo màu tím cơ bản được tạo ra từ một loại thảo dược, chất lỏng từ gốc cây thảo dược có thể dùng để nhuộm quần áo màu tím, bên trong “Nhĩ nhã – Thích thảo” có ghi lại: “Miểu, tử thảo”, ý nói là khinh thường. Hầu hết khu vực Đông Á dùng thực vật để nhuộm quần áo màu tím, nhưng sau đó dễ bị phai màu, muốn màu sắc bền lâu thì cần phải rất công phu, cho nên quần áo màu tím rất đắt.

“Hàn Phi Tử  – Ngoại trữ thuyết tả thượng” ghi lại: “Tề hoàn công hảo phục tử, nhất quốc tẫn phục tử, đương thị thì dã, ngũ tố bất đắc nhất tử.” Nói cách khác, lúc ấy năm bộ quần áo màu trắng không có giá trị bằng một bộ quần áo màu tím. Đối với người phương Tây, quần áo màu tím có giá trị rất cao, họ dùng một loại vỏ sò để nhuộm quần áo.

Ở phương Tậy, màu tím tượng trưng cho quyền lực và tôn quý, tương tự Trung Quốc, vật gì hiếm thì quý, tuy nói là màu phối hợp nhưng cũng không khó hiểu tại sao sau này màu tím được ưa chuộng. Triều đại nhà Đường, quan tam phẩm trở lên mặc quan phục màu tím, cho nên trong thơ Bạch Cư Dị viết: “Tử bào tân bí giam, bạch thủ cựu thư sinh”. Ngoại trừ đắt giá, tại Trung Quốc màu tím không tách rời sự phát triển của Đạo giáo.

Tuy Hán Vũ Đế nói: “Bãi truất bách gia, độc tôn nho thuật”, đặt Nho giáo làm cơ sở, nhưng Khổng Tử không có thiện cảm với màu tím không được truyền ra ngoài. Mặt khác, rất nhiều bậc đế vương, kể cả Hán Vũ Đế đều cảm giác sâu sắc Đạo giáo có chỗ phù hợp với màu tím.

Nguyên nhân thứ nhất, có quan hệ với chiêm tinh học.

Các bậc đế vương cổ đại rất ưa chuộng chiêm tinh học, chính xác là tử vi. Theo dõi sự thay đổi quỹ đạo của các vì sao mà suy ra sự thịnh suy của xã hội và lời tiên đoán. Thời cổ các sao trên trời được các nhà thiên văn chia làm tam viên, 28 tinh tú và các chòm sao khác. “Tam viên” chỉ “Thái Vi Viên”, “Thiên Thị Viên”, “Tử Vi Tinh Viên”. Tử Vi Tinh Viên đại diện cho thiên tử, ở giữa tam viên. Sao Tử Vi Chính là sao Bắc Đẩu xung quanh có rất nhiều sao bao bọc bảo vệ. Thời cổ có thuyết “Thái bình thiên tử ngồi chính giữa, thanh tình quan viên tứ hải phân” Người xưa coi Thiên tử là chòm sao Tử Vi, vì vậy chòm sao Tử Vi trở thành đất của hoàng cực (hoàng gia), gọi cung điện hoàng đế là “tử cực”, “tử cấm”, “tử viên”. Cách nói “Tử cấm” đã có từ đời nhà Đường.

Nguyên nhân thứ hai, hoàng đế tự coi mình là thiên tử, tức con của Trời.

Thiên cung là nơi Thiên đế ở cũng là nơi thiên tử trú ngụ. Sách “Quảng Nhã. Thích Thiên” có nói “Thiên cung” còn gọi là “Tử cung” (cung màu tím). Vì vậy, cung điện của hoàng đế ở được gọi là “Tử cung”. “Tử cung” cũng gọi là “Tử Vi cung”. Sách “Hậu Hán Thư” viết: “Trời có cung Tử Vi, là nơi ở của thượng đế, vua lập cung điện cũng gọi như vậy”. Sách “Nghệ Văn Loại Tụ” lại ghi: “Hoàng khung thùy tượng, dĩ thị đế vương, Tử Vi chi tắc, hoằng đán di quang” (Nơi ở của hoàng đế phải nguy nga tráng lệ để tỏ uy nghiêm. Nguyên tắc của sao Tử Vi cũng tỏa sáng khắp nơi).

Nguyên nhân thứ ba, liên quan điển cố “Từ Khí Đông Lai” (khí màu tím đến từ phía Đông).

Theo truyền thuyết Lão Tử ra khỏi cửa ải Hàm Cốc, có khí màu tím đến từ phía Đông. Quan giữ thành vừa nhìn thấy hiện tượng này bỗng Lão Tử cưỡi trâu xanh từ từ đi đến. Quan giữ thành biết đó là thánh nhân, liền nhờ Lão Tử viết sách. Đó là sách “Đạo Đức Kinh” nổi tiếng trong thiên hạ. Từ đó, khí màu tím mang hàm nghĩa cát tường, báo hiệu thánh hiền, bậc đế vương, của quý xuất hiện. Bài thơ “Thu Hưng” của Đỗ Phủ có viết: “Tây vọng Dao Trì giáng Vương Mẫu. Đông lai tử khí mãn Hãm quan”. Từ đó, người xưa gọi khí cát tường là “tử vân” (màu tím). Chỗ ở của “tiên” trong truyền thuyết gọi là “tử hải”, gọi thần tiên là “tử hoàng”, gọi con đường nhỏ ngoại thành thành Đông Kinh là “tử mạch”. Khí màu tím từ phía Đông đến, tượng trưng cho cát tường. Điều đó cho thấy chữ “Tử” trong Tử Cấm Thành” có nguồn gốc (xuất xứ) rất cụ thể. Nơi hoàng đế ở phòng bị nghiêm ngặt, thường dân không được phép đến gần, vì vậy gọi là “Tử Cấm Thành”.

Bản vẽ Tử Cấm Thành

Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh rộng 1087 mẫu, chiều dài Nam Bắc 961 m,chiều rộng Đông Tây là 753 m, chu vi dài 3,5 km, có hơn 9000 gian phòng khác nhau trong các cung điện. Tường bao quanh Cố Cung cao hơn 10 m. Gọi hoàng cung là Tử Cấm Thành không những trang nghiêm mà còn có hàm nghĩa “Thành của Thiên tử” (con trời). Khảo sát các công trình kiến trúc trong Cố Cung cho biết điện Thái Hòa tượng trưng cho sự vĩ đại và cao cả của “trời” ở chính giữa Cố Cung và là nơi cao nhất trong Cố Cung. Hai cung Càn Thanh, Khôn Ninh tượng trưng cho trời và đất liên kết chặt chẽ với nhau. Hai cổng Nhật Tinh và Nguyệt Hoa ở hai bên cung Càn Thanh, Khôn Ninh tượng trưng cho Mặt trời và Mặt trăng. 6 cung Đông Tây tượng trưng 12 tinh tú và các tổ hợp kiến trúc khác biểu thị các vì sao trên bầu trời. Quần thể kiến trúc mang tính tượng trưng này bao bọc hai cung Càn Thanh, Khôn Ninh biểu thị thiên tử “nhận mệnh trời”- và tính uy nghiêm của Hoàng đế.

Nguồn: http://www.daikynguyenvn.com/the-gioi/goc-nhin-the-gioi/vi-sao-hoang-cung-goi-la-tu-mau-tim-cam-thanh-ma-khong-phai-la-mau-sac-khac.html