Kịch bản Long thành cầm giả ca được nhà biên kịch Văn Lê chuyển thể từ bài thơ chữ Hán cùng tên của đại thi hào Nguyễn Du. Để tỏ thái độ tôn trọng thi hào và trung thực với lịch sử, chúng tôi để nguyên tên Long thành cầm giả ca nhưng ở dưới với dòng chữ dịch nghĩa “Bài ca người gẩy đàn thành Thăng Long”.

>>9X làm phim về bình đẳng giới

>>Bản giao hưởng định mệnh: Bức tranh đa sắc về tình yêu

phim-lich-su-viet.jpg

Đạo diễn Đào Bá Sơn và diễn viên Quách Ngọc Ngoan tại trường quay Long thành cầm giả ca

Chúng tôi ra Bắc chọn cảnh nhiều lần. Có nhiều đêm không thể chợp mắt được với bao suy nghĩ trong lòng…. Vẫn biết rằng “đụng” đến thi hào Nguyễn Du là đụng đến cái hồn văn nghệ của dân tộc. Bởi vì ông là một thi sĩ, một đại thi hào của dân tộc. Một danh nhân văn hoá đã được thế giới công nhận. Ông không phải là một nhà chính trị. Ông không đến được với nhà Tây Sơn vì tư tưởng trung quân vẫn còn day dứt nơi ông. Ba đời ăn lộc nhà Lê, anh trai ông là Nguyễn Quýnh, khởi nghĩa chống lại Tây Sơn bị bắt, không chịu đầu hàng và bị giết. Quân Tây Sơn đốt làng Tiên Điền…. Và đó chính là một trong những lý do ông không đến được với nhà Tây Sơn. Việc lý giải này là thái độ tôn trọng và trung thực với lịch sử của chúng tôi.
Long thành cầm giả ca là một câu chuyện buồn, đẹp và cảm động mang tính tự sự của đại thi hào với một danh cầm đất Thăng Long trong một xã hội đầy biến động và bi thương. Vua Lê – Chúa Trịnh và sự lộng hành của kiêu binh. Nhà Lê mạt - quân Thanh xâm lược nước ta - nhà Tây Sơn đánh đuổi quân Thanh….rồi nhà Nguyễn thay nhà Tây Sơn…..!
Dưới con mắt của ông, mọi triều đại đã đi vào quá khứ. Chỉ còn lại người đàn bà gẩy đàn thành Thăng Long và tiếng đàn của nàng. Nàng đã từng rực rỡ sắc màu qua các triều đại mà ông đã chứng kiến…. Giờ đây gặp lại, nhan sắc đã tàn phai tiều tuỵ,chỉ còn lại tiếng đàn vẫn như xưa. Ông đau đớn, xót xa cho thân phận của một nghệ sỹ tài hoa, một kiếp người chìm nổi.
Chúng ta đều biết trung tâm của phim truyện là nhân vật. Và nhân vật là chất liệu cơ  bản để xây dựng hình tượng nghệ thuật. Đặc biệt là trong phim lịch sử, nó buộc chúng tôi phải tìm hiểu phải nắm bắt nhân vật một cách cụ thể, chi tiết, tỉ mỉ. Phải nắm được cốt cách của nhân vật, hành động và cuộc sống thực của họ và những biến cố xảy ra. Từ những khát vọng cho đến những bi kịch của họ. Những nhân vật lịch sử luôn được sinh ra trong những bối cảnh lịch sử cụ thể. Một tác phẩm lịch sử bằng ngôn ngữ văn tự chuyển sang ngôn ngữ hình ảnh thì nó buộc phải tuân thủ những đặc điểm cơ bản của một tác phẩm điện ảnh về thời gian, về cấu trúc và nó phải có mâu thuẫn, va chạm. Phải có xung đột và hàng loạt các yêu cầu khác….. Cho nên không thể không có hư cấu. Nhưng “hư cấu” cái gì ??? Và không “hư cấu” cái gì??? Chúng tôi cho rằng không được phép hư cấu các sự kiện của lịch sử, các chi tiết thật, tình tiết thật hoặc ngày, tháng, năm của lịch sử. Không được vo tròn hay bóp méo mà phải tôn trọng sự thật của nhân vật. Phần chúng ta hư cấu được chính là các tình tiết nhỏ- và hư cấu để lý giải cho các sự kiện thật và nhân vật thật… Tuy nhiên, nó đòi hỏi phải luôn cẩn trọng và có bản lĩnh để trả lại cho lịch sử những giá trị thật của lịch sử. Vì vậy chúng tôi phải tìm tòi, tìm kiếm các tư liệu, các chứng cớ của lịch sử, các chi tiết, các sự kiện có thật của nhân vật hoặc chung quanh các nhân vật….. Chúng tôi cho rằng mình càng tìm hiểu và biết được càng nhiều các chi tiết thật bao nhiêu thì nhân vật càng phong phú và hấp dẫn bấy nhiêu. Nhân vật lịch sử phải được bình thường hoá để có da, có thịt, có đời sống để có sức thuyết phục. Về phương diện nghệ thuật,chúng tôi lấy sự chân thực của lịch sử để hư cấu, để nâng lên thành sự “chân thực” của nghệ thuật.

phim-long-thanh-cam-gia-ca.jpg
Cảnh trong phim Long thành cầm giả ca

Trong Long thành cầm giả ca, nhân vật cô Cầm đã được đại thi hào xây dựng khá sắc nét qua những miêu tả và tự sự của ông để nói lên tài năng cũng như thân phận bi kịch của người đàn bà ấy đã khiến ông phải đau đớn, dằn vặt trong lòng. Và chúng tôi đã hư cấu và phát triển nhân vật Cầm theo ý này.
Nhưng Nguyễn Du lại là một nhân vật quá lớn. Để cảm nhận và xây dựng hình tượng của ông là một thách thức lớn đối với chúng tôi. Nguyễn Du đau đớn, tư lự, hoang mang trước thời cuộc và hoang mang với chính bản thân mình. Ông từ bỏ giai cấp quí tộc của mình, triều đại lớn nhất mà ông phụng sự - đó chính là nhân dân của ông. Những con người lầm than, những thân phận thấp hèn,khổ đau, chìm nổi kiếp người trong ly tao, trong chiến tranh loạn lạc liên miên đầy ắp trong thi ca của ông. Chính vì vậy, chúng tôi đã đưa “Văn tế thập loại chúng sinh” cùng với 6 trích đoạn các bài thơ chữ Hán khác vào phim để minh chứng và làm phong phú hơn về tính cách của Nguyễn Du. Mặc dù Long thành cầm giả ca chỉ là một lát cắt nhỏ trong toàn bộ sáng tác của ông, tôi nghĩ rằng với nhân cách và tài năng lớn lao cùng với cuộc đời kỳ lạ và phức tạp của Nguyễn Du vẫn là một kho vàng còn bỏ ngỏ cho điện ảnh Việt Nam. 
Như đã nói, chúng tôi nhiều lần ra Bắc vào Nam chọn cảnh và chuẩn bị bối cảnh, hàng trăm các địa điểm của hàng chục tỉnh thành được khảo sát. Chủ nhiệm của chúng tôi ban ngày nhảy Lambada. Ban đêm ca vọng cổ bài: Chết chết rồi Đào Bá Sơn ơi! Khi kim đồng hồ chỉ hơn 14.000km cho chọn, tìm bối cảnh nội ngoại chỉ trong hai chuyến đi đầu tiên. Nhiều đêm không ngủ, lòng dạ như lửa đốt…. Phim về Thăng Long mà Thăng Long không còn nữa. Phải tạo dựng được không khí lịch sử, thành quách luôn bị đốt phá, dân chúng chạy loạn liên miên. Mười một dinh thự công hầu khanh tướng trong đó có nhà tể tướng Nguyễn Khản bị đốt phá… Rồi Thăng Long vào mùa xuân hoa đào nở đỏ thắm trên phố chợ tấp nập người mua kẻ bán. Rồi doanh trại quân Thanh, doanh trại quân Tây Sơn hừng hực gươm giáo. Rồi thì làng cổ xưa đẹp đẽ thanh bình. Rồi thì quân Thanh tiến vào Việt Nam .vv. và .vv.. Và đặc biệt nhất chính là cái giếng làng ở đầu phim và kết phim.Rồi thì phục trang của hai nhân vật chính. Hàng chục quan lại lụa là gấm vóc dưới triều Lê, quân Thanh, triều Nguyễn, nhà Tây Sơn, rồi quân lính nhà Lê, lính Tây Sơn, lính Thanh… Hoạ sỹ Nguyễn Thị Thu Hà là một hoạ sỹ phục trang giỏi, rất am hiểu và kĩ tính trong thiết kế. Phục trang đẹp nhưng không màu mè loè loẹt và phải đúng với lịch sử.
Chúng tôi phải tạo dựng không khí một thành Thăng Long 200 năm trước đầy biến loạn, ly tán, nhưng vẫn phải tìm ra được những vẻ đẹp đã mất – tìm ra được những tâm hồn Việt.
Thách thức quá lớn, quá khó khăn. Kinh phí thì lại có hạn. Một bài toán với hàng trăm vấn đề phải giải quyết... Thật lòng chúng tôi không đủ tiền để xây dựng bối cảnh nên phương án mà chúng tôi buộc phải lựa chọn đó là chọn cảnh thật, có sẵn rồi chúng tôi cải tạo thêm và thêm bớt những chỗ cần thiết cho phù hợp. Chúng tôi chỉ sử dụng các bối cảnh, các kiến trúc, đạo cụ phù hợp với từng giai đoạn lịch sử trong phim. Làm thế nào ra nhà quan võ??? Làm sao để ra nhà quan văn ???? Nhà tể tướng thì bày cái gì, treo cái gì??? Dinh quan tổng trấn thì đặt cái gì, dựng cái gì???? Tuỳ theo yêu cầu cụ thể mà kết hợp với kĩ xảo để tạo hình. Bù lại nhược điểm không có trường quay thì nó có một ưu điểm là thật, thậm chí rất thật. Nhưng lại khó khăn vô vàn về quay, về đặt sáng và các góc độ thể hiện, về thời gian và tiền bạc. (Có bối cảnh chúng tôi đã quay với giá 1.000 USD một ngày và phải quay tới 12 ngày. Lại thêm một lần nữa ông chủ nhiệm của chúng tôi nhảy hip hop)
Trộn giữa thật và giả sao cho như thật, để bối cảnh nhà cửa, thành quách phù hợp với nội dung và không gian lịch sử. Tạo cảnh từ  những cái có sẵn rồi tổ chức, sắp đặt, thay đổi thêm bớt chi tiết, các đạo cụ…phối hợp dàn cảnh với nhân vật để bật lên được không khí của thời đại với tính chân thực cao. Hướng tới cái đẹp, cái hương vị Việt thuần khiết của văn hoá Thăng Long xưa. Đưa người xem trở lại với cội nguồn, với chất thơ mà bộ phim hướng tới.
Trong bộ phim Long thành cầm giả ca, tôi may mắn có được một êkip giỏi, làm việc với tính chuyên nghiệp cao, có tình yêu với nghề nghiệp và trách nhiệm trong sáng tạo. Chúng tôi thống nhất tông màu chủ đạo là tông nâu. Điều này được quán triệt từ bối cảnh, nhà cửa, quần áo các nhân vật, thành quách, đạo cụ… Bởi màu nâu là màu của một nền văn minh lúa nước, màu của đất,của mái đình, mái chùa. Màu của làng quê Việt Nam ta với nhà tranh vách đất. Chính sắc màu này đã góp phần tạo nên cái cảm xúc hồn Việt cho bộ phim.
Sau vô vàn khó khăn, bộ phim đã hoàn thành và chúng tôi rút ra được rất nhiều kinh nghiệm quý báu đồng thời có thể khẳng định: “phim lịch sử Việt Nam có thể làm tại Việt Nam”.
Đạo diễn – NSND Đào Bá Sơn