Một số nhận định về đặc điểm khí hậu biển Đông. Biển Đông có thể nhận thấy đây là miền khí hậu mang cả nét chung của các vùng duyên hải lân cận trên đất liền và của vùng khí hậu hải dương. Ở các vùng biển ven bờ có chế độ nhiệt cũng như chế độ mưa, ẩm, chế độ gió, bốc hơi, nắng,...

MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU BIỂN ĐÔNG

Mai Văn Khiêm(1), Trần Thục(1), Lã Thị Tuyết(1), Trương Thị Thanh Thủy(1), Hoàng Đức Cường (2)

(1) Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

(2) Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương

Tóm tắt. Đặc điểm khí hậu Biển Đông được đánh giá dựa trên chuỗi số liệu của 13 trạm ven bờ và các trạm đảo thời kỳ 1961-2010. Phân tích và đánh giá được thực hiện cho 8 vùng, bao gồm 6 vùng biển ven bờ và 2 vùng biển ngoài khơi: Vùng biển bắc vịnh Bắc Bộ, nam vịnh Bắc Bộ, từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, từ Bình Định đến Ninh Thuận, từ Bình Thuận đến Cà Mau, từ Cà Mau đến Kiên Giang, khu vực quần đảo Hoàng Sa (vùng biển ngoài khơi bắc Biển Đông) và khu vực quần đảo Trường Sa (vùng biển ngoài khơi nam Biển Đông). Kết quả cho thấy các vùng biển ven bờ có đặc điểm cơ bản của vùng khí hậu ven bờ và cũng mang những nét của khí hậu hải dương. Vùng biển các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mang đặc điểm của vùng khí hậu hải dương, thể hiện rõ nét là có mùa hè mát hơn và mùa đông ấm hơn, nhiệt độ tối cao thường thấp hơn và nhiệt độ tối thấp thường cao hơn so với khí hậu đất liền.

1. Mở đầu

Biển Đông nằm ở phía Tây của Thái Bình Dương. Các vùng biển chủ quyền thuộc Biển Đông của các quốc gia ven biển được quy định theo Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982. Đường bờ Biển Đông của Việt Nam có chiều dài khoảng 3260 km, kéo dài qua 28 tỉnh, thành phố. Biển Đông có hai vịnh lớn là vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan. Điều kiện khí hậu ở vịnh Bắc Bộ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ gió mùa đông bắc và địa hình nông ven bờ Việt Nam. Vịnh Thái Lan nằm sâu vào phía bờ tây nam của Biển Đông, có nhiều đảo lớn trong đó có đảo Phú Quốc là đảo lớn nhất ven bờ Việt Nam. Hai quần đảo lớn thuộc chủ quyền Việt Nam nằm trong Biển Đông là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Quần đảo Hoàng Sa rộng khoảng 14.000 km2, cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý về phía đông. Từ quần đảo Hoàng Sa đi về phía đông nam khoảng 300 hải lý là quần đảo Trường Sa với diện tích rộng khoảng 180.000 km2.

Khí hậu Biển Đông đã được phân tích trong một số nghiên cứu. Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc (1993) đã khái quát về miền khí hậu Biển Đông, trong đó coi khí hậu các đảo gần bờ mang đặc điểm chính của khí hậu vùng đất liền lân cận với đảo đó. Khu vực ngoài khơi Biển Đông, được xét như một miền khí hậu riêng với hai vùng bắc Biển Đông và nam Biển Đông. Những đặc trưng khí hậu chính của vùng bắc Biển Đông được đánh giá dựa trên số liệu của trạm đảo Hoàng Sa, vùng nam Biển Đông được đánh giá dựa trên số liệu của trạm đảo Trường Sa, đây được đánh giá là vùng khí hậu gió mùa mang tính chất xích đạo rõ rệt. Một số nghiên cứu khác về đặc điểm khí hậu Biển Đông như Atlas Khí tượng Thủy văn Việt Nam (1994); Chế độ nhiệt ở Biển Đông và Vịnh Thái Lan (Nguyễn Vũ Thi, 1986); Quy luật biến động của một số trường khí tượng cơ bản vùng biển Đông (Bùi Xuân Thông, 2001).

Dựa trên chuỗi số liệu cập nhật đến năm 2010 của các trạm đảo Việt Nam, kể cả trạm đảo ven bờ và trạm ngoài khơi, tính chất của một số yếu tố khí hậu được phân tích và đánh giá, với mục đích cung cấp thông tin chi tiết hơn về đặc điểm khí hậu Biển Đông.

2. Số liệu và phương pháp

2.1. Số liệu

Số liệu được sử dụng bao gồm nhiệt độ trung bình tháng, nhiệt độ tối cao, nhiệt độ tối thấp, tổng lượng mưa tháng, độ ẩm trung bình tháng, tổng lượng bốc hơi tháng, tốc độ gió trung bình, số giờ nắng của 13 trạm khí tượng, khí hậu ven bờ và ngoài đảo khu vực Biển Đông. Thời kỳ số liệu của đa phần các trạm là 1961-2010. Tuy nhiên, một số trạm đảo có chuổi số liệu ngắn hơn vẫn được sử dụng.

Bảng 1. Danh sách các trạm và thời kỳ lấy số liệu

2.2. Phương pháp

Phương pháp tính các đặc trưng thống kê được sử dụng phổ biến trong thống kê khí hậu bao gồm:

Trung bình số học, :

Cực đại của chuỗi, Max (x): Max(x) = x*n

Cực tiểu của chuỗi, Min (x): Min(x) = x*1

Trong đó: t = thời gian, xt = số liệu quan trắc

3. Kết quả và thảo luận

Đặc điểm khí hậu Biển Đông được đánh giá qua đặc điểm khí hậu của 6 vùng khí hậu biển ven bờ và 2 vùng khí hậu biển ngoài khơi. Quá trình phân vùng này cơ bản dựa theo sự phân vùng trong bản đồ dự báo thời tiết các vùng biển Việt Nam của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, kết hợp với nguồn số liệu hiện có. Khu vực tính toán bao gồm: Vùng biển bắc vịnh Bắc Bộ, nam vịnh Bắc Bộ, từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, từ Bình Định đến Ninh Thuận, từ Bình Thuận đến Cà Mau, từ Cà Mau đến Kiên Giang, khu vực quần đảo Hoàng Sa (vùng biển ngoài khơi bắc Biển Đông) và khu vực quần đảo Trường Sa (vùng biển ngoài khơi nam Biển Đông).

3.1. Đặc điểm khí hậu vùng biển bắc vịnh Bắc Bộ

Chế độ nhiệt: nhiệt độ ở vùng biển bắc vịnh Bắc Bộ phân bố tương đối đồng nhất theo không gian. Nhiệt độ không khí trung bình năm dao động trong khoảng từ 22,50C đến 24,00C; chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất trong năm vào khoảng 11,5 - 13,50C. Nhiệt độ không khí trung bình tháng lạnh nhất dao động trong khoảng từ 15,0 - 17,20C. Nhiệt độ không khí trung bình tháng nóng nhất là 28,0 - 29,50C. Nhiệt độ tối thấp trung bình và nhiệt độ tối cao trung bình trong các tháng mùa hè và các tháng mùa đông có sự khác biệt đáng kể. Đảo Bạch Long Vĩ là nơi có nền nhiệt độ cao nhất trong vùng. Nhiệt độ không khí tối cao trung bình của các tháng tại tất cả các trạm không dưới 17,50C và có trị số trung bình trong tháng nóng nhất (tháng VII) là 31,0 - 32,00C. Nhiệt độ không khí tối thấp trung bình trong tháng lạnh nhất (tháng I) dao động trong khoảng 13,5 -15,60C.

Chế độ mưa và các yếu tố khác: Lượng mưa trung bình năm dao động trong khoảng từ 1100 - 1700mm. Trong năm có 4 - 5 tháng có lượng mưa trung bình trên 200mm, 5 tháng có lượng mưa trung bình dưới 50 mm. Mùa mưa phổ biến từ tháng V đến tháng X trong đó mưa nhiều nhất vào 3 tháng VII, VIII, IX. Trị số phổ biến của độ ẩm tương đối trung bình năm là 84 - 85%. Lượng bốc hơi trung bình năm dao động từ 750mm đến 1100mm, chỉ số ẩm ướt năm là 1,5 - 2,0. Tốc độ gió trung bình năm là 4,0 - 7,0 m/s và tốc độ gió mạnh nhất năm là 45 - 50 m/s, mạnh hơn so với vùng duyên hải trong đất liền.

3.2. Đặc điểm khí hậu vùng biển nam vịnh Bắc Bộ

Chế độ nhiệt: Trong các tháng mùa đông nền nhiệt ở vùng biển nam vịnh Bắc Bộ cao hơn so với vùng biển bắc vịnh Bắc Bộ, trong mùa hè thì ngược lại. Nhiệt độ trong mùa hè ở bắc vịnh Bắc Bộ thấp hơn so với đất liền, trong khi đó nhiệt độ mùa đông cao hơn so với đất liền. Vì vậy nên biên độ năm của nhiệt độ ở ngoài vịnh nhỏ hơn trong đất liền. Nhiệt độ không khí trung bình năm là 23,0 - 24,00C, trong tháng nóng nhất (tháng VII) là 29,0 - 29,50C, trong tháng lạnh nhất (tháng I) là 17,0 - 17,50C. Nhiệt độ tối cao trung bình trong tháng nóng nhất là 32,5 - 33,00C, nhiệt độ tối thấp trung bình trong tháng lạnh nhất là 15,40C. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối khoảng gần 40,00C và nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối xấp xỉ 6,00C.

Chế độ mưa và các yếu tố khác: Giá trị phổ biến của lượng mưa trung bình năm là 1600 - 2000mm trong đó có 5 - 6 tháng lượng mưa trung bình trên 100mm, khoảng 4 tháng lượng mưa trung bình dưới 50mm. Mùa mưa phổ biến từ tháng V đến tháng X, mưa nhiều nhất vào 3 tháng VIII, IX, X, muộn hơn so với vùng biển bắc vịnh Bắc Bộ một tháng. Giá trị phổ biến của lượng bốc hơi trung bình năm là 800 - 930mm, độ ẩm tương đối trung bình năm là 85 - 86%, chỉ số ẩm ướt năm là 2,0 - 2,5. Tốc độ gió trung bình năm là 2,0 - 4,0 m/s và tốc độ gió mạnh nhất là 50 - 60 m/s.

3.3. Đặc điểm khí hậu vùng biển từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi

Chế độ nhiệt: Nhiệt độ không khí trung bình năm dao động trong khoảng 25,0 - 27,00C. Biên độ dao động năm là 6,0 - 9,00C. Trong vùng biển này nhiệt độ phân bố theo không gian tương đối đồng đều trong các tháng mùa hè. Các tháng nóng nhất là tháng VI – VIII. Nhiệt độ không khí tối cao trung bình trong các tháng không nhỏ hơn 23,30C, với giá trị trung bình trong các tháng nóng nhất là 31,00C - 33,00C. Nhiệt độ không khí tối thấp trung bình trong các tháng không nhỏ hơn 19oC, với giá trị trung bình trong tháng lạnh nhất (tháng I) là 19,0 - 22,00C.

Chế độ mưa và các yếu tố khác: Lượng mưa trung bình năm dao động trong khoảng 2200 - 2400mm. Mùa mưa lùi muộn hơn so với vùng biển bắc và nam vịnh Bắc Bộ, kéo dài từ tháng VIII năm trước đến tháng I năm sau, trong đó mưa tập trung vào các tháng IX, X, XI. Trong 3 tháng này lượng mưa đo được đều trên 300mm. So với hai vùng biển thuộc bắc và nam vịnh Bắc Bộ thì ở vùng biển này có lượng mưa dồi dào hơn vì cả năm không có tháng nào lượng mưa dưới 50 mm, trong khi đó các vùng biển trên có từ 4-5 tháng. Giá trị phổ biến của độ ẩm tương đối trung bình năm là 85%, lượng bốc hơi năm là 860 - 940mm và chỉ số ẩm ướt là 2,2 - 2,8. Tốc độ gió trung bình năm là 3,5 - 4,5 m/s, tốc độ gió cực đại là 32 - 40 m/s.

3.4. Đặc điểm khí hậu vùng biển từ Bình Định đến Ninh Thuận

Chế độ nhiệt: Nhìn chung khí hậu vùng biển từ Bình Định đến Ninh Thuận tương đối mát mẻ, không còn mùa đông lạnh. Giá trị trung bình năm của nhiệt độ ở vùng biển này khoảng 27,00C. Biên độ năm của nhiệt độ từ 4,5 - 6,60C. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối khoảng 39,0 - 40,00C, với giá trị trung bình trong các tháng nóng nhất (tháng VI-VIII) từ 33,0 - 35,00C. Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối khoảng 15,0 - 16,00C, với giá trị trung bình trong tháng lạnh nhất là 21,0 - 22,00C.

Chế độ mưa và các yếu tố khác: Lượng mưa trung bình năm ở vùng biển này thấp hơn hẳn so với vùng biển nam vịnh Bắc Bộ, vùng biển từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi và tương đương với vùng biển bắc vịnh Bắc Bộ. Giá trị phổ biến của lượng mưa năm trong khoảng 1200 - 1900mm. Mùa mưa lùi muộn hơn so với các vùng biển phía bắc, thời gian kéo dài của mùa mưa cũng ngắn hơn, từ tháng IX đến tháng XII, trong đó mưa nhiều nhất vào 3 tháng IX, X, XI. Trong năm có khoảng 3 - 4 tháng có lượng mưa dưới 50 mm/tháng. Giá trị phổ biến của độ ẩm tương đối trung bình năm là 75-80%, lượng bốc hơi năm là 1100 - 1900mm, lớn hơn hẳn so với các vùng biển phía bắc. Chỉ số ẩm ướt năm dao động trong khoảng 1,0 - 1,7. Giá trị phổ biến cảu tốc độ gió trung bình năm là 2 - 3 m/s, tốc độ gió lớn nhất là 30- 40 m/s. Tổng số giờ nắng trung bình năm ở vùng biển này là 2500 - 2700 giờ.

3.5. Đặc điểm khí hậu vùng biển từ Bình Thuận đến Cà Mau

Chế độ nhiệt: Ở vùng biển này nhiệt độ phân bố tương đối đồng đều theo không gian và thời gian, không có sự khác nhau nhiều giữa nhiệt độ mùa đông và nhiệt độ mùa hè, vì thế biên độ năm của nhiệt độ ở vùng biển này tương đối nhỏ. Nhiệt độ không khí trung bình năm dao động trong khoảng 27,0 - 27,50C. Biên độ năm của nhiệt độ là 3,1 - 4,10C. Không giống với các vùng biển phía bắc, vùng biển này có tháng nóng nhất rơi vào tháng V, nhiệt độ không khí tối cao trung bình trong tháng này là khoảng 320C. Nhiệt độ không khí tối thấp trung bình trong tháng lạnh nhất (tháng I) là 23,5 – 24,00C.

Chế độ mưa và các yếu tố khác: Lượng mưa trung bình năm dao động trong một khoảng khá rộng với trị số phổ biến là 1250 - 2100 mm. Mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng XI, mưa nhiều nhất vào 3 tháng VIII, IX, X. Độ ẩm tương đối trung bình năm là 80 - 85%, lượng bốc hơi năm là 1100 - 1300mm, chỉ số ẩm ướt năm là 1,0 - 1,8. Tốc độ gió trung bình năm phổ biến là 2,5 - 5,5 m/s, tốc độ gió mạnh nhất là 30 - 50 m/s.

3.6. Đặc điểm khí hậu vùng biển từ Cà Mau đến Kiên Giang

Chế độ nhiệt: Giá trị nhiệt độ trung bình năm ở vùng biển này cũng tương đương như các vùng biển khu vực Trung Bộ với giá trị vào khoảng 27,20C và không còn mùa đông lạnh. Biên độ năm của nhiệt độ tương đối nhỏ. Tháng nóng nhất là các tháng IV và V, với nhiệt độ trung bình tháng là 28,50C và tháng lạnh là tháng I, với nhiệt độ trung bình tháng là 25,70C. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 37,00C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 16,00C.

Chế độ mưa và các yếu tố khác: Lượng mưa trung bình năm ở vùng biển này lớn hơn hẳn so với các vùng biển phía bắc, khoảng 2500 - 3000mm. Vì mùa mưa ở đây đến sớm hơn, bắt đầu từ tháng IV và kéo dài đến tháng XI, mưa nhiều nhất vào 3 tháng VII, VIII, IX. Trong mùa mưa có 4 - 5 tháng mưa trên 300 mm và khoảng 2 - 3 tháng trong thời kỳ ít mưa có mưa dưới 50mm. Trị số phổ biến của độ ẩm tương đối trung bình năm là 80 - 85%, lượng bốc hơi năm là 1200 - 1300m, chỉ số ẩm ướt năm là 2,0 - 2,5. Tốc độ gió trung bình năm là 2,5 - 3,0 m/s, tốc độ gió cực đại năm vào khoảng 40 m/s. Số giờ nắng trung bình năm khoảng là 2300 - 2400 giờ trong đó có 5 - 6 tháng trong năm có trên 200 giờ nắng.

3.7. Đặc điểm khí hậu vùng biển quần đảo Hoàng Sa (vùng biển ngoài khơi bắc Biển Đông)

Chế độ nhiệt: Nhiệt độ khu vực quần đảo Hoàng Sa có giá trị trung bình năm vào khoảng 27,00C và không có mùa đông lạnh dù vị trí nằm ở khu vực vĩ độ tương đối cao. Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất (tháng I) vẫn đạt 23,00C - 24,00C, cao hơn khu vực đất liền cùng vĩ độ từ 3,0 - 4,00C. Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng V, VI) cũng chỉ lên tới 29,2 - 29,30C. Vì vậy chênh lệch nhiệt độ giữa mùa đông và mùa hè ở vùng biển này nhỏ hơn đáng kể so với đất liền. Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất trong năm là vào khoảng 6,00C, nhỏ hơn so với trên đất liền. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối không vượt quá 36,00C và nhiệt độ tối thấp tuyệt đối không xuống dưới 17,00C.

Chế độ mưa và các yếu tố khác: Chế độ mưa ở vùng biển này gắn liền với hoạt động của gió mùa. Mùa mưa trùng với mùa gió mùa mùa hạ và mùa ít mưa trùng với mùa gió mùa mùa đông. Mùa ít mưa kéo dài từ tháng XII đến tháng V với lượng mưa trung bình trong các tháng ít mưa nhất (tháng I, II, III) vào khoảng 15 - 30 mm và số ngày mưa từ 5 - 8 ngày; các tháng còn lại có lượng mưa trung bình vào khoảng 30 - 70mm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng VI đến tháng XI với lượng mưa tháng từ 110 - 250mm, mưa nhiều nhất vào các tháng VIII, IX, X. Số ngày mưa trong các tháng mùa mưa từ 7 - 14 ngày. Số ngày mưa trong năm khoảng 110 ngày. Đây là vùng biển ít xảy ra trường hợp mưa lớn, tổng lượng mưa trung bình năm chỉ khoảng 1100 - 1300 mm, thấp hơn tất cả các vùng biển ven bờ khác. Độ ẩm không khí cao quanh năm, trung bình vào khoảng 82 – 85%, thấp nhất cũng đạt giá trị 81%.

Hướng gió trong từng mùa rất ổn định. Mùa đông gió thịnh hành hướng Đông Bắc với tần suất trên 50%, hướng Bắc với tần suất trên 25%. Mùa hè gió thịnh hành hướng Nam với tần suất trên 50%, hướng Tây Nam với tần suất xấp xỉ 30%. Mùa đông gió mạnh hơn, với tốc độ trung bình vào khoảng 5 - 7m/s và khoảng 4 - 5m/s trong mùa hè. Ở đây hầu như không quan trắc thấy lặng gió, tốc độ gió nhỏ nhất cũng đạt gần 1,5 m/s nhưng rất ít.

3.8. Đặc điểm khí hậu vùng biển quần đảo Trường Sa (vùng biển ngoài khơi nam Biển Đông)

Chế độ nhiệt: Chế độ nhiệt vùng biển quần đảo Trường Sa mang đặc điểm của chế độ nhiệt vùng biển nhiệt đới xích đạo, có nền nhiệt độ cao và ít biến đổi qua các mùa trong năm. Giá trị nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 27,0 - 28,00C. Dạng biến trình năm của nhiệt độ mang tính chất xích đạo, đó là biến trình kép với biên độ khá nhỏ. Biên độ năm của nhiệt độ khoảng 3,00C, cực đại chính là vào tháng nóng nhất là tháng V với nhiệt độ trung bình tháng là 29,20C, cực đại phụ là vào tháng IX với giá trị là 28,5 - 29oC. Tháng có nhiệt độ cực tiểu là tháng I, tháng lạnh nhất với nhiệt độ trung bình tháng khoảng 26,00C. Nhiệt độ tối cao trung bình năm là 29,70C và nhiệt độ tối thấp trung bình năm chỉ thấp hơn vài độ, có trị số là 26,10C.

Chế độ mưa và các yếu tố khác: Lượng mưa ở vùng biển quần đảo Trường Sa lớn gấp khoảng 2 lần so với vùng biển quần đảo Hoàng Sa và có sự phân chia rõ rệt theo mùa, mùa mưa và mùa ít mưa. Lượng mưa trung bình năm khoảng 2300 - 2500mm với hơn 16 ngày mưa/tháng. Mùa mưa bắt đầu từ tháng V cùng với sự bắt đầu của hoạt động gió mùa mùa hè và kết thúc vào tháng XII. Mùa mưa cũng phân rõ 2 thời kỳ, mưa nhiều vào đầu và cuối mùa, tháng trung gian ít mưa là tháng VIII. Lượng mưa trong các tháng mưa nhiều nhất (X, XI, XII) có giá trị trung bình vào khoảng 250 - 370 mm/tháng với 20 ngày mưa/tháng. Trong thời kỳ ít mưa, trung bình mỗi tháng lượng mưa cũng đạt được trên 50mm với 7 - 16 ngày mưa/tháng.

Độ ẩm tương đối trung bình năm ở vùng biển quần đảo Trường Sa cũng cao tương tự như đối với vùng biển quần đảo Hoàng Sa. Độ ẩm quanh năm cao, chỉ xuống dưới 80% vào tháng IV và tháng V. Chế độ gió vùng biển quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhìn chung là giống nhau, gió thịnh hành ổn định theo mùa, tốc độ gió lớn. Tổng lượng bốc hơi năm ở vùng biển quần đảo Trường Sa đạt giá trị lớn nhất so với các vùng biển khác. Lượng bốc hơi trung bình năm phổ biến trên khu vực Biển Đông dao động trong khoảng 700 - 1300 mm trong khi tại vùng biển quần đảo Trường Sa đạt khoảng 1500mm.

Kết luận

Qua phân tích đặc điểm khí hậu của 8 vùng biển thuộc Biển Đông có thể nhận thấy đây là miền khí hậu mang cả nét chung của các vùng duyên hải lân cận trên đất liền và của vùng khí hậu hải dương. Ở các vùng biển ven bờ có chế độ nhiệt cũng như chế độ mưa, ẩm, chế độ gió, bốc hơi, nắng,... ngoài những nét cơ bản của vùng khí hậu ven bờ, còn mang những nét khí hậu hải dương. Vùng khí hậu hải dương được thể hiện rõ rệt qua đặc điểm khí hậu vùng biển quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có mùa hè mát hơn và mùa đông ấm hơn, nhiệt độ tối cao thường thấp hơn và nhiệt độ tối thấp thường cao hơn so với khí hậu trong đất liền.

Lời cảm ơn: Bài báo hoàn thành nhờ sự trợ giúp từ đề tài cấp Nhà nước "Nghiên cứu xây dựng Atlas khí hậu và biến đổi khí hậu Việt Nam" thuộc Chương trình KHCN-BĐKH/11-15.

Theo: tapchibien.vn