DN truyền hình cáp "đòi" EVN giảm 50% giá thuê cột điện. Theo ông Lê Đình Cường, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Truyền hình trả tiền (VNPAYTV), sắp tới Hiệp hội sẽ đại diện cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truyền hình cáp làm việc với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) để thống nhất xây dựng cơ chế và phương thức tính giá thuê cột điện treo cáp truyền hình theo hai phương án. Phương án thứ nhất, đề nghị EVN áp dụng giá thuê cột điện bằng 50% giá thuê treo cáp viễn thông hiện hành đối với các đơn vị truyền hình cáp có số thuê bao lớn, từ trên 20.000 thuê bao và cung cấp dịch vụ tại các địa bàn đô thị, đông dân cư. Phương án hai, EVN áp dụng giá thuê cột điện theo tỷ lệ doanh thu đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ tại các địa bàn ngoại thành, dân cư thưa thớt hoặc các đơn vị truyền hình cáp có dưới 20.000 thuê bao theo đơn giá thỏa thuận giữa hai bên.

Doanh nghiệp Khoa học công nghệ

Ông Cường cho biết thêm, trong năm 2013, VNPAYTV cũng đã kiến nghị với EVN về đơn giá thuê cột điện treo cáp truyền hình theo cơ chế mềm với hai hình thức: Bằng hoặc thấp hơn 50% đơn giá mới do EVN đưa ra hoặc là theo tỷ lệ từ 6-8% doanh thu. Tuy nhiên, việc áp dụng chung một đơn giá và phương thức thuê cột trên toàn hệ thống chưa thực hiện được nên EVN tạm thời chỉ đạo một số điện lực địa phương thống nhất về đơn giá và phương thức hợp đồng với từng đơn vị cung ứng truyền hình cáp trên địa bàn. Vấn đề giảm giá thuê cột điện treo cáp truyền hình vẫn chưa được giải quyết triệt để do tính chất phức tạp.

Liên quan đến vấn đề giá thuê cột điện, ông Nguyễn Kỳ Thành, Giám đốc công ty Điện tử Sao Đỏ cho biết, hiện nay EVN có công bố một bảng giá thuê cột treo cáp chung trên toàn quốc, nhưng thực tế EVN các địa phương lại áp giá cho mỗi đơn vị một kiểu, có đơn vị được giảm tới 50% giá thuê cột, có đơn vị lại được trả bằng 10% doanh thu, với cách tính này tại những khu vực mới kéo cáp chưa có thuê bao doanh nghiệp truyền hình sẽ giảm được khá nhiều chi phí. Trong khi đó, đa số các doanh nghiệp truyền hình nhỏ khác vẫn phải trả theo giá thuê niêm yết, điều này là không công bằng.

Ông Thành cho rằng, giá cho thuê cột treo cáp của EVN đang ở mức quá cao, bình quân khoảng 20.000 đồng/sợi/tháng/cột, tính ra tiền thuê cột để treo cáp còn đắt hơn tiền đầu tư vào mạng cáp chạy trên cột điện.

"Chi phí trồng một cột điện khoảng 4 triệu đồng trong khi thu tiền thuê cột đã được từ 400.000 đồng - 500.000 đồng/tháng. Nếu nhà nước cho phép các doanh nghiệp khác được trồng cột thì chắc không ít doanh nghiệp cũng xin trồng cột chỉ để cho thuê vì siêu lợi nhuận", ông Thành nói.

Từ ngày 1/3/2014, việc kiểm soát giá thuê công trình hạ tầng kỹ thuật dùng chung được áp dụng theo Thông tư liên tịch số 210/2013/TTLT-BTC-BXD-BTTTT ngày 30/12/2013. Điều 4 của Thông tư này quy định, Nhà nước thực hiện kiểm soát giá thuê công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên thuê, bên cho thuê và lợi ích chung của xã hội theo quy định của pháp luật. Việc kiểm soát giá thuê công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung được thực hiện thông qua phương thức kiểm soát giá thuê và phương pháp xác định giá thuê quy định tại Thông tư liên tịch này.

Trước khi ba Bộ ký Thông tư liên tịch kể trên, hồi tháng 4/2012, VNPT đã kiến nghị Nhà nước cần can thiệp vào vấn đề giá cho thuê cột điện vì đang ở tình trạng "nhiều người mua, nhưng chỉ có 1 người bán" nên sẽ xảy ra chuyện ép giá. Các doanh nghiệp viễn thông, các đơn vị truyền hình cáp đều phải thuê cột điện vì bị EVN áp mức giá cắt cổ. Theo mức giá mà EVN đưa ra, các doanh nghiệp viễn thông và truyền hình phải trả rẻ nhất là 20.000 đồng/sợi cáp/cột/tháng. Nếu cứ áp mức giá này thì các doanh nghiệp viễn thông sẽ không thể kinh doanh nổi vì chi phí thuê cột quá cao.

Trước sức ép về giá cho thuê cột, từ năm 2010 VNPT có chương trình đầu tư xây dựng tuyến cột mới để tách dần các tuyến cáp viễn thông ra khỏi tuyến cột điện lực. Ngoài ra, VNPT và Viettel đã thống nhất việc trao đổi, sử dụng chung hạ tầng các tuyến cột treo cáp, các tuyến cáp quang/sợi quang hai bên đã, đang và sẽ đầu tư tại các tỉnh, thành trên toàn quốc thay cho việc cả hai bên cùng phải thực hiện đầu tư xây dựng mới những hạng mục này, giảm thiểu được các chi phí đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn của Nhà nước.