Trải qua nhiều thế kỉ, phát minh của con người có ứng dụng rất lớn, tác động trực tiếp vào đời sống con người từ thuở sơ khai. Những phát minh mang tính lịch sử đó đã được cải tiến, áp dụng khoa học kĩ thuật hiện đại phục vụ nhân loại cho đến ngày nay


Trước khi phát minh ra giấy, con người thường ghi chép lại các sự kiện trên đá, đất sét và sau đó là da, tre hay dải lụa. Mọi việc bắt đầu thay đổi khi một người Trung Quốc phát minh ra giấy từ năm 105 cho mọi người thuận tiện sử dụng. Người đàn ông đó là Thái Luân, một hoạn quan trong triều đình. Ông dùng vỏ cây, sợi gai, vải rách… để chế tạo ra giấy.

(Ảnh: thông qua megafun.vn)

(Ảnh: thông qua megafun.vn)

Thực ra trước Thái Luân đã có nghề làm giấy ở Trung Quốc, có thể là từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên, sớm hơn Thái Luân tới 100 năm. Vậy nên có người coi Thái Luân chỉ là người có công cải tiến kỹ thuật làm giấy ở Trung Quốc.

Từ thế kỷ 12, giấy được đưa sang châu Âu thông qua giao lưu giữa phương Tây Thiên Chúa giáo và phương Đông Ả Rập cũng như qua nước Tây Ban Nha thời kỳ Hồi giáo.

Bánh xe

Việc phát minh ra bánh xe tạo ra sự thay đổi vượt bậc trong sản xuất, giao thông… và cuộc sống của con người. Nhờ có bánh xe, con người không còn cần phải mang vác nặng bằng sức người hay sức ngựa như trước nữa.

(Ảnh: thông qua trithuccongluan.com.vn)

(Ảnh: thông qua trithuccongluan.com.vn)

Những chiếc bánh xe đầu tiên được tìm thấy có niên đại từ 3.500 năm trước công nguyên tại khu vực Lưỡng Hà. Chúng chủ yếu là các khúc gỗ được xẻ ra thành tấm và đục lỗ ở giữa để làm trục.

Với hình dạng như vậy, những chiếc bánh xe giúp cho việc vận chuyển của con người trở nên dễ dàng hơn nhưng vẫn chưa thực sự hữu dụng bởi chúng quá dày và nặng. Mãi tới thiên niên kỷ sau đó, con người mới phát minh ra nan hoa, nhờ đó mà bánh xe trở nên nhẹ hơn và hoạt động linh hoạt hơn.

Đến năm 1845, lốp bơm hơi được trình làng lần đầu bởi R.W. Thompson và được cải tiến bởi John Dunlop vào năm 1888 giúp cho bánh xe ngày càng hoạt động hiệu quả hơn.

Cúc áo

Chiếc cúc áo dù nhỏ bé nhưng lại là phần không thể thiếu của các trang phục. Trước khi tìm ra kim loại, con người chủ yếu dùng dây buộc, xương hoặc gai cây thay cho cúc áo.

(Ảnh: O-detstve.ru.)

(Ảnh: O-detstve.ru.)

Hiện tại, vẫn chưa rõ cúc áo do ai phát minh ra. Một sốnhà sử học khẳng định cúc áo có từ thời La Mã, một số khác cho rằng từ thời Hy Lạp cổ đại, trong khi một nhóm nhà khoa học đưa ra những dẫn chứng về nguồn gốc châu Á của cúc áo.

Theo các nhà khảo cổ học những biến thể giống cúc áo đầu tiên được làm từ vỏ sò đã được phát hiện trong nền văn minh Thung lũng Indus Kot Yaman giai đoạn khoảng 2800-2600 trước Công nguyên.

Mãi cho tới thế kỷ 18, cúc áo được xem là vật xa xỉ mà chỉ có nhà giàu mới dám dùng. Vua chúa dùng cúc bằng vàng, bạc còn giới thượng lưu dùng xương voi. Tới tận thế kỷ 19, dù đã có cúc áo bằng thép và đồng nhưng cúc áo vẫn là đồ vật đắt tiền.

Ngày nay cúc áo không chỉ là một vật dụng nhỏ bé thông thường mà còn được chế tác như những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo nằm trong các bộ sưu tập và được bán với giá cao.

Diêm

Con người đã tạo ra lửa từ thời rất xa xưa bằng cách chà xát 2 tấm vỏ cây vào nhau hàng giờ liền hoặc dùng đá lửa đập vào nhau… Cách làm này mất khá nhiều thời gian và việc giữ được ngọn lửa cũng không hề dễ dàng.

(Ảnh: thông qua vtc.vn)

(Ảnh: thông qua vtc.vn)

Mãi tới năm 1826, một nhà hóa học người Anh là John Walker đã tình cờ sáng chế ra diêm quẹt  bằng cách trộn clorat kali với antimony sulfide.

Năm 1830, nhà hóa học 19 tuổi người Pháp Charles Soria đã phát minh ra diêm phốt pho, tạo ra từ hợp chất muối bertollete, phốt pho trắng và keo. Diêm phốt pho dễ sử dụng, khi đốt không có mùi khó chịu, song có hại cho sức khỏe do chất phốt pho trắng chứa độc tố gây hại.

Tới năm 1855, nhà hóa học Johan Lunstrom đã tìm ra chất phốt pho đỏ thích hợp cho sản xuất diêm vì tính an toàn của chúng. Những que diêm an toàn đầu tiên đã được sản xuất ở Thuỵ Sỹ vào năm 1844.

Giờ đây thay vì bọc lên đầu que diêm tất cả những chất hoá học cần thiết thì người ta bôi phốt pho đỏ lên bề mặt của hộp và ta chỉ cần quẹt que diêm vào đó.

Giấy vệ sinh

Trước khi giấy vệ sinh ra đời, người cổ đại dùng những vật dụng khác thay thếcho chúng. Những người giàu có thường sử dụng vải len hoặc vải mềm dễ giặt thay cho giấy vệ sinh. Người La Mã sử dụng bọt biển cắm vào một cái que rồi sau đó ngâm vào nước. Nếu nghèo khó hơn, người ta sẽ dùng cỏ, lá cây hoặc rơm rạ.

(Ảnh: Globalwarming.org)

(Ảnh: Globalwarming.org)

Người Viking chùi bằng khăn, trong khi người thổ dân châu Mỹ thì dùng các loại lá cây trong tầm với tay, hoặc dùng lõi ngô. Các vị vua Pháp thì cao cấp hơn, họ dùng giẻ bằng vải lanh.

Mãi cho tới năm 1857, một người đàn ông Mỹ tên là Joseph Hayetti đã nghĩ ra cách cắt giấy thành từng tờ vuông vắn và đóng thành gói. Không rõ ai là người đã nghĩ ra cách cuộn tròn giấy vệ sinh như ngày nay nhưng bắt đầu từ năm 1890 xưởng giấy “Scott Paper” ở Mỹ đã sản xuất hàng loạt loại giấy này.

Bàn chải đánh răng

Những chiếc bàn chải đánh răng đầu tiên được tìm thấy cách đây 5000 năm khi các nhà khoa học phát hiện ra tại các bãi khảo cổ Ai Cập. Chúng được làm hết sức đơn giản, từ cành cây và có sợi tơ ở đầu.

(Ảnh:vanityshare.net)

(Ảnh:vanityshare.net)

Đến năm 1498, vị hoàng đế Hoằng Trị nhà Minh (Trung Quốc) đã sáng tạo ra loại bàn chải mà chúng ta dùng ngày nay nhưng với nguyên liệu từ xương thú và lông lợn rừng Siberia.

Sau khi con người phát minh ra nylon, năm 1938 bàn chải đã được chuyển sang làm từ sợi nylon nhựa. Nhưng do chất liệu nylon cứng nên lông lợn rừng được thay thế và sử dụng cho tới tận giữa thế kỷ 20. Vào năm 1954, chiếc bàn chải đánh răng dùng điện đầu tiên có tên là Broxodent được phát minh tại Thụy Sĩ.

(Ảnh: thông qua yan.vn)

(Ảnh: thông qua yan.vn)

Vào năm 2003, chiếc bàn chải đánh răng được dân Mỹ chọn là phát minh hữu dụng số 1 mà họ không thể sống thiếu nó.

Nguồn: daikynguyenvn.com